A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

RÈN LUYỆN  KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN ÁP SUẤT VẬT LÍ 8 .

Với đội ngũ giáo viên Vật lí có kinh nghiệm giảng dạy, nhận thức rõ một số vấn đề nảy sinh trong quá trình dạy học như đã nêu trên. Tổ khoa học tự nhiên  trường THCS Bảo Ninh nhận thấy rằng: Khi dạy Vật lí lớp 8 nói chung và phần Áp suất nói riêng, giáo viên cần lồng ghép giáo dục kĩ năng sống, đồng thời tích hợp có hiệu quả với môn  học. Có như vậy, các em mới hứng thú với bộ môn, tích lũy được nhiều kĩ năng sống cho bản thân, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả dạy học.

  1. LÍ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ:

Giáo dục kỉ năng sống đây là một trong nội dung của phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực. Là yêu cầu, là xu hướng xã hội hiện đại trong thế giới toàn cầu hoá như hiện nay.

 Thực tế việc giáo dục toàn diện cho học sinh trong đó có kỉ năng sống ở nước ta gặp nhiều khó khăn, việc dạy học còn tập trung vào dạy kiến thức là chính mà ít chú trọng đến dạy thái độ, kỉ năng ứng xử với con người, môi trường thiên nhiên,…

Mặt khác học sinh lớp 8 là lứa tuổi mà tâm sinh lí có nhiều thay đổi, các em  lại đang sống trong một xã hội có quá nhiều biến động, đòi hỏi học sinh phải tự trạng bị cho mình thật nhiều kĩ năng sống cần thiết.

Vật lí là bộ môn khoa học thực nghiệm, gắn liền với khoa học, công nghệ và đời sống nên thuận lợi cho giáo viên trong việc lồng ghép giữa dạy kiến thức và dạy kĩ năng sống.

Vật lí 8 nói chung bao gồm phần Cơ và Nhiệt là những mảng kiến thức gắn liền với thực tế đời sống hết sức quan trọng và bổ ích. Tuy nhiên, chương trình Vật lí lớp 8 chỉ được 1 tiết/tuần. Nội dung kiến thức khá nhiều và khó nên nhiều em không mấy hứng thú thậm chí sợ học Vật lí. Bên cạnh đó nhiều em học thuộc lý thuyết, làm tốt bài tập, song áp dụng kiến thức để giải thích một số hiện tượng trong thực tế còn lúng túng , thiếu khoa học. Cũng trong chương trình Vật lí 8, đặc biệt ở phần Áp suất, các bài học có nhiều kiến thức thực tế có thế tích hợp được các môn  học vào dạy học Vật lí thì  sẽ đạt hiệu quả cao, tăng hứng thú học tập cho học sinh.

          Với đội ngũ giáo viên Vật lí có kinh nghiệm giảng dạy, nhận thức rõ một số vấn đề nảy sinh trong quá trình dạy học như đã nêu trên. Tổ khoa học tự nhiên  trường THCS Bảo Ninh nhận thấy rằng: Khi dạy Vật lí lớp 8 nói chung và phần Áp suất nói riêng, giáo viên cần lồng ghép giáo dục kĩ năng sống, đồng thời tích hợp có hiệu quả với môn  học. Có như vậy, các em mới hứng thú với bộ môn, tích lũy được nhiều kĩ năng sống cho bản thân, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả dạy học.

Trong quá trình triển khai, mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng tổ chuyên môn đã cùng nhau nghiên cứu,tìm tòi, thảo luận và đi đến thống nhất tìm mọi cách để khắc phục, đẩy mạnh thuận lợi, giúp học sinh đạt hiệu quả học tập cao hơn.

Với những lí do đó, nhóm giáo viên chúng tôi đã trăn trở, lựa chọn và viết chuyên đề:

Rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học phần Áp suất vật lí 8”.

 II. MỤC ĐÍCH CHUYÊN ĐỀ:     

    Chuyên đề Rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học phần Áp suất vật lí 8” nhằm:  

- Giúp các em tích lũy các kĩ năng sống cần thiết cho bản thân trong cuộc sống hiện tại cũng như trong tương lai.

- Kích thích hứng thú học tập môn Vật lí cho các em học sinh lớp 8.

- Nâng cao chất lượng học tập môn Vật lí nói chung và Vật lí 8 nói riêng.

- Giúp các em có thêm kiến thức về các môn học thông qua giờ học Vật lí.

Ví dụ: Bài áp suất:

- Biết được vì sao khi xây nhà nếu làm móng to thì nhà không bị lún. Vì sao các mũi khoan, mũi đinh, mũi kim người ta đều làm nhọn.

- Hiểu được tác hại của việc đi giày cao gót nhất là với các em trong độ tuổi THCS.

III. NỘI DUNG TRIỂN KHAI:

1. Cơ sở lí thuyết:

- Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm nên tính ứng dụng rất cao. Nhờ tính ứng dụng này nên nếu giáo viên biết khai thác sẽ thu hút được đam mê của học sinh. Vật lí lớp 8 có nhiều bài tích hợp được với môn môn học và giáo dục kĩ năng sống, như: Lực ma sát, áp suất, áp suất khí quyển, áp suất chất lỏng, sự nổi…

- Ở bài áp suất, các em được hình thành khái niệm áp lực, áp suất và công thức tính áp suất. Cụm từ  “ áp suất” được nhắc đến rất nhiều trong xây dựng, công nghệ và trong đời sống hàng ngày. Khi nào cần tăng áp suất, khi nào cần giảm áp suất?  Đó là một vấn đề mà chúng ta cần có kiến thức và kĩ năng mới giải quyết được.

2. Cơ sở thực tiễn:

 - Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đầy đủ. Phần lớn học sinh khối 8 chăm ngoan nhưng kĩ năng thực hành, kĩ năng sống còn hạn chế. Giáo viên Vật lí được đào tạo đúng chuyên môn, có kinh nghiệm trong giảng dạy. BGH nhà trường đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS.

3. Các giải pháp chủ yếu:

3.1   Xây dựng kĩ năng sống cần giáo dục và nội dung tích hợp phù hợp với từng bài học.

          Đây là vấn đề cốt lõi trong dạy học tích hợp. Cần lựa chọn, chắt lọc thật kĩ nội dung cần tích hợp đối với mỗi bài học. Không ôm đồm, lồng ghép quá nhiều biến giờ học Vật lí thành giờ học thẩm cẩm làm mờ nhạt luôn nội dung trọng tâm của bài. Cũng không đưa kĩ năng sống vào quá nhiều cả về số lượng và thời lượng mà trong 1 tiết học chỉ nên dành 5 – 7 phút cho nội dung tích hợp.

          Ví dụ:         - Ở bài Áp suất,  tích hợp về kĩ năng tăng, giảm áp suất trong thực tế: Kĩ năng đóng đinh, may vá... Kĩ năng lựa chọn giày dép có độ cao phù hợp.

          - Ở bài Áp suất chất lỏng, tích hợp về kĩ năng lặn dưới nước...

          - Ở bài Áp suất khí quyển, tích hợp về kĩ năng bảo vệ sức khỏe khi thời tiết thay đổi: Giữ ấm tai khi trời lạnh để không bị ù tai do sự thay đổi của áp suất khí quyển;  hiện tượng xảy như ra trong đời sống như  khi ngồi máy bay càng lên cao tai bị ù, khó thở hơn dưới đất...

          - Ớ bài sự nổi, tích hợp về  kĩ năng bơi lội, sự nổi của tàu thuyền, các sinh vật biển bị chết nổi lên....

.

3.2. Thu thập tài liệu có sức thuyết phục

       Tài liệu muốn có sức thuyết phục trước hết phải chính xác, có số liệu, hình ảnh, clip minh họa rõ ràng, cụ thể, không nói suông.

       Thứ 2, tài liệu phải gần gũi, gắn liền với đời sống.

Ví dụ:

- Ớ bài Áp suất, ta chọn những hình ảnh gần gũi nhất: đi giày cao gót, mũi kim, mũi đinh... Tìm số liệu về tỉ lệ phụ nữ mắc các bệnh về xương khớp do đeo giày cao gót.

- Ở bài Sự nổi, ta đưa ra con số cụ thể về tai nạn đuối nước sau đó mới giáo dục kĩ năng bơi lội . Các số liệu thống kê cá chết do nhiễm độc, thiệt hại tài sản ở biển Đồng Hới – Quảng Bình tháng 4 năm 2016.

3.3. Lựa chọn thời điểm thích hợp trong tiến trình giảng dạy để tích hợp các nội dung

Song song với việc lựa chọn nội dung thì việc lựa chọn thời điểm tích hợp là hết sức quan trọng. Điều này làm cho bài dạy trở nên sinh động và học sinh nhanh khắc sâu kiến thức. Nếu lựa chọn thời điểm không phù hợp sẽ khiến cho bài dạy thiếu sức lôi cuốn,  bài dạy bị đứt quãng và xa rời trọng tâm kiến thức.

Ý thức được điều này giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ lưỡng các phương án tích hợp để vừa đảm bảo dạy đúng, dạy đủ vừa đạt được mục tiêu giáo dục tích hợp.

Để đảm bảo được các yêu cầu đó thì trong chuyên đề này nội dung tích hợp được đưa vào sau khi các em đã tiếp thu được kiến thức nôi dung học tập của phần đó.

3.4. Sử dụng tivi thông minh, máy chiếu projecter để dạy nội dung tích hợp.

Việc sử dụng máy vi tính kết hợp với tivi thông minh, máy chiếu để dạy học sẽ phát huy cao tính trực quan của bài dạy nhằm thu hút sự chú ý của các em.

4. Các giải pháp mới

-  Khi tích hợp giáo viên cần quan tâm đến các ví dụ đưa phải  gần gũi, mang tính “thời sự ” phù hợp với tâm sinh lý học sinh cũng như với đặc điểm địa phương.

- Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn nhóm giáo viên bộ môn Vật lý, Sinh học, Công nghệ đưa ra các bài học liên quan cùng thống nhất ví dụ, cách giải thích và ứng dụng của nó cho phù hợp hơn.

- Ngoài việc sử dụng trang thiết bị đã có, giáo viên và học sinh còn tìm tòi, nghiên cứu, sáng tạo thêm những mẫu vật thực tế liên quan đến bài học nhằm tạo sự hứng thú trong dạy và học.

- Nhờ sự ủng hộ của phụ huynh trong việc tìm các hình ảnh thực tế trong lao động sản xuất cũng như trong đời sống hằng ngày, các câu tục ngữ trong dân gian để học sinh dễ nhớ, dễ vận dụng.

- Nhà trường tổ chức các giờ học ngoại khóa giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua các trò chơi, văn hóa văn nghệ.

- Nhà trường kết hợp với gia đình tổ chức các buổi tham quan ở địa phương giúp các em tìm hiểu văn hóa địa phương kết hợp giáo dục kĩ năng sống liên quan đến bài học. Từ đó khơi gợi niềm yêu thích, hứng thú học tập của các em.

VÍ DỤ MINH HỌA:

TIẾT 9: ÁP SUẤT ( VẬT LÍ 8)

* Sinh học: Tác hại của việc đi giày cao gót.

          + Đau nhức chân, phù thủng chân: Đây là điều tất yếu vì bàn chân bị bó buộc trong một tư thế dốc suốt thời gian dài.

          + Khi đi giày cao gót, trọng tâm dồn về phía trước, diện tích tiếp xúc với mặt đất khi di chuyển nhỏ. Trọng lực toàn thân sẽ dồn hết vào mũi bàn chân gây áp suất lớn lên mũi bàn chân. Kéo dài tình trạng trên sẽ làm biến dạng ngón chân mà vẹo ngón chân cái là điển hình.

          + Đau lưng: Nếu đi giày cao gót từ 3,5 cm trở lên, trọng lực cơ thể sẽ dồn về phía trước.  Muốn giữ cân bằng, ngực và thắt lưng phải ngã về phía sau. Điều này gây sức ép lớn lên cột sống, khớp gối và hệ xương. Về lâu dài, nó sẽ khiến cột sống và khớp gối bị yếu, nhanh lão hóa, gây đau nhức, vẹo cột sống… Đặc biệt, các em đang ở độ tuổi phát triển thì việc đi giày cao gót là việc tối kị.

          + Ngoài ra, việc đi giày cao gót còn ảnh hưởng đến khả năng sinh sản,  gây hoa mắt, chóng mặt…

=> Kĩ năng sống: + Học sinh tuyệt đối không nên đi giày cao gót. Gót giày thích hợp có độ cao không quá 3,5cm.

+ Nếu trường hợp cần thiết phải đi giày cao gót thì khi về nhà cần ngâm chân bằng nước muối ấm. Lựa chọn giày cao gót dạng đế xuồng sẽ giáp được áp suất lên mũi bàn chân và cột sống.

+ Chọn cỡ giày vừa chân hoặc lớn hơn 1 cỡ so với khi đi giày bệt.

*Công nghệ và đời sống:

- Đường ray tàu hỏa được đặt trên các thanh tà vẹt. Chân cầu, móng nhà được xây to để tăng diện tích bị ép, giảm áp suất tác dụng lên mặt đất, tránh làm lún đất nguy hiểm cho tàu, cầu và nhà.

- Mũi khoan, đinh, kim… luôn được làm nhọn, tạo áp suất lớn nên dễ dàng cho việc đâm xuyên.

=> Kĩ năng sống: - Khi khoan, đóng đinh, may vá, đan, thêu…các em cần chọn mũi khoan, đinh, kim, que đan… có độ nhọn thích hợp để công việc được nhẹ nhàng và đảm bảo tính thẩm mĩ.

          - Khi cắt thịt, cá cần lựa chọn dao có lưỡi thật sắc và đặt dao vuông góc với miếng thịt.

          - Khi xúc đất, chọn cái xẻng mũi tròn sẽ xúc dễ dàng hơn cái mũi vuông.

TIẾT 10: ÁP SUẤT CHẤT LỎNG (VẬT LÍ 8)

- Chất lỏng gây ra áp suất theo mọi hướng.

* Sinh học:

- Sử dụng chất nổ để đánh cá sẽ gây ra một áp suất rất lớn, áp suất này truyền theo mọi phương gây ra sự tác động của áp suất rất lớn lên các sinh vật khác sống trong đó. Dưới tác dụng của áp suất này, hấu hết các sinh vật đếu bị chết. Việc đánh bắt cá bằng chất nổ gây ra tác động hủy diệt sinh vật, ô nhiễm môi trường sinh thái.

* Công nghệ:

Đánh bắt cá bằng xung điện (kích điện), cho đến nay đã không còn là việc làm vụng trộm, hiếm gặp ở nhiều nơi trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Lối đánh bắt hủy diệt mà không ít người coi đó như một kế sinh nhai thường nhật, họ quên rằng đây là một việc làm phi pháp, ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường thủy sinh. Đánh cá bằng xung điện nguy cơ hủy diệt mọi loài thủy sinh, vẫn đang hiện hữu ở đa dạng địa bàn: Từ những con suối nhỏ, trong hồ đập, cho đến cả những con sông lớn, biển, đại dương. Trên mỗi con thuyền là những bình ác quy công suất lớn. Mỗi lần nhấn nút kích, luồng điện có thể mạnh lên đến 250V, đủ khả năng giết chết mọi loài cá tôm, cho đến cả tế bào trứng các loại trong phạm vi bán kính vài mét. Ngoài ra, việc sử dụng nguồn điện mạnh rất dễ chập điện gây cháy hoặc tai nạn điện vô cùng nguy hiểm đến tính mạng con người, sinh vật cũng như tài sản.

* Kĩ năng sống:

+ Học sinh sau khi học xong bài này có thể về tuyên truyền vận động bố mẹ, các bác ngư dân không sử dụng chất nổ để đánh bắt cá bằng thuốc nổ, xung kích điện gây chết cá, các sinh vật biển và ô nhiễm môi trường biển.

+ Khi biết hoặc bắt gặp hành vi đánh bắt cá trên thì học sinh có thể báo với bố mẹ, nhà trường, địa phương để có biện pháp ngăn chặn kịp thời.

+ Tổ chức các hoạt động ngoại khóa với các trường trong địa bàn xã cùng chung tay tuyên truyền vận động để ngăn chặn việc đánh bắt cá phi pháp ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường biển khi còn chưa quá muộn.

TIẾT 11: ÁP SUẤT QUYỂN (VẬT LÍ 8)

- Trái Đất và mọi vật trên Trái Đất chịu tác dụng của áp suất khí quyển theo mọi phương.

* Sinh học: Khi đi máy bay hoặc lặn xuống biển hoặc khi xuống các hầm  sâu, áp suất khí quyển thay đổi. Ở áp suất thấp, lượng ô xi trong máu giảm ảnh hưởng đến sự sống của con người và động vật. Khi áp suất khí quyển tăng, áp suất tăng gây ra áp lực chèn ép lên các phế nang của phổi và màng nhĩ, ảnh hưởng đến sức khỏe con người.

- Biện pháp: Để bảo vệ sức khỏe cần tránh thay đổi áp suất đột ngột, đi biển lặn hoặc vào hầm sâu cần mang theo bình ô xi. Khi đi máy bay cần nhét bông vào tai tránh ù tai.

IV. KẾT LUẬN:                                                      

            Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh và tích hợp công nghệ, sinh học là hết sức cần thiết trong quá trình dạy học Vật lí nói chung và Vật lí 8 phần Áp suất nói riêng. Với những gì đã đúc rút được ở chuyên đề này, nhóm Vật lí chúng tôi không mong muốn gì hơn ngoài mục đích nâng cao chất lượng dạy học môn Vật lí, tăng hứng thú học tập Vật lí cho các em cũng như giáo dục cho các em một số kĩ năng sống cần thiết.   

Kính thưa quý thầy, cô giáo! Ý tưởng của chuyên đề trên xuất phát trong quá trình dạy học. Với kinh nghiệm còn ít, chắc không thể tránh được những thiếu sót. Chúng tôi rất mong sự góp ý chân thành của quý thầy, cô giáo để chuyên đề trên được hoàn thiện hơn. Chân thành cảm ơn! 

bài giảng Vật lý 18-19 lần 2.doc


Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài viết liên quan
Văn bản mới
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 1
Tháng 07 : 300
Năm 2021 : 1.883