A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Văn hóa ẩm thực Việt Nam nét đẹp truyền thống thổi hồn vào văn chương

Có thể nói văn hóa ẩm thực Việt là một tập hợp vô số nét tinh túy độc đáo, nét đẹp của văn hóa ẩm thực ấy đi vào văn chương lại càng tự nhiên mà thi vị. Nó làm bản sắc văn hóa dân tộc Việt thêm giàu có, đậm đà mà phong phú, là kho đề tài vô tận để nhà văn khám phá và thử sức mình với từng món ngon Việt.

 Ăn uống vừa là một như là một nhu cầu, một bản năng để sống và tồn tại của con người, đồng thời nó cũng thể hiện nét đẹp văn hóa của mỗi dân tộc. Nét đẹp ấy tồn tại qua món ăn thức uống, cấu trúc bữa ăn, cách thức chế biến, bày biện, và quan trọng hơn cả là cách ứng xử, thái độ, sự giao tiếp của con người trong ăn uống. Văn hóa ẩm thực, nét đẹp ấy đi vào văn chương thật tự nhiên, nó thổi hồn vào văn chương trở thành đề tài hết sức hấp dẫn từ văn học dân gian đến văn học viết.

 1. Kho tàng ca dao, tục ngữ, thành ngữ đã đề cập đến cái ăn cái uống với một số lượng lớn. Nó như là lời nhắc nhở, là kinh nghiệm, là yêu cầu, chuẩn mực của người đi trước với người đời sau về văn hóa ăn uống của dân tộc. Cũng theo đó mà những nét văn hóa đẹp đẽ ấy được gìn giữ và lưu truyền.

- Về đồ ăn: tục ngữ ca dao nói nhiều về đồ ăn, những cách kết hợp trong một món ăn: “Con gà cục tác lá chanh / Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi / Con chó khóc đứng khóc ngồi / Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng.”…

- Về cách ăn: Ta phải ăn như thế nào, dùng đũa hay dùng tay, ngồi hay đứng, ăn trước hay ăn sau, ăn chậm hay ăn nhanh: “ăn nên đọi, nói nên lời”; “ăn vóc, học hay”, “ăn kĩ no lâu”. “ăn chậm, nhai kĩ”… Tương tự, ăn đồ gì phải ăn như thế nào: “Ăn cơm lừa thóc, ăn cóc bỏ gan” hay “Ăn cá bỏ vây,” “Ăn cá nhả xương, ăn đường nuốt chậm.”

- Về thái độ ăn: “có thực mới vực được đạo”. Ăn với ai phải có thái độ nào; ăn ở đình khác với ăn ở nhà; mà ăn với khách lại khác với ăn với bạn thân. “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng” cũng như “rào trước đón sau.” “lời mời (chào) cao hơn mâm cộ”, “Ăn được ngủ được là tiên/ Không ăn không ngủ mất tiền thêm lo”.

 - Về nơi ăn: “Một bát giữa làng bằng một sàng xó bếp.” Để mời khách, người Việt thích mời họ về nhà hơn là quán. Không phải vì tiết kiệm, vì đó là một dấu tỏ thân thiện “cơm nhà lá vườn.”

Người Việt lấy “miếng trầu làm đầu câu truyện.” Họ nhận ra trong ăn uống tính chất linh thiêng “Trời đánh còn tránh miếng ăn.” Họ diễn tả đạo làm người, lòng tôn kính tổ tiên qua “đạo ăn”: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, hay qua “đạo uống”: “uống nước nhớ nguồn”. Khi diễn tả sự tranh dành, hay sự ganh đua, trả thù, họ nói “ăn miếng trả miếng”, hay “chồng ăn chả vợ ăn nem.” Người Việt lên án những kẻ “ăn cháo đá bát”, “qua cầu rút ván”  hay “vắt chanh bỏ vỏ”.  Họ chê bai bọn “ăn quỵt,” “ăn bẩn”, “ăn bớt, ăn xén.” Họ không thích những kẻ “ăn bậy, ăn bạ”,  hay “ăn trên ngồi chốc”.  Họ khinh kiểu “ăn không ngồi rồi,” “mồm lê mách lẻo,” “ăn chực, ăn rình.” Xác định nền văn hóa cao thấp, họ nhìn cách thế ăn uống. “Ăn lông ở lỗ” chỉ nền văn hóa thô sơ, trong khi “ăn sang,” “ăn chơi” “sơn hào hải vị”, “yến tiệc linh đình” chỉ một nền văn hóa hưởng thụ. Ðể định địa vị, người ta đặt mâm, đặt đũa, đặt bát, xem món ăn, đo thức uống: “mâm phải cao, đĩa phải đầy.” Vinh dự hay ngược lại gắn liền với nơi ăn chỗ uống “một miếng giữa làng bằng sàng xó bếp.” Qua chính những câu nói như vậy, ta có thể thấy được một cách chính xác và rõ ràng nhất văn hóa dân tộc, thấy được tầm quan trọng của văn hóa ăn uống, nó cũng như đạo lý sống của con người.

2.  Không chỉ thể hiện rõ trong văn học dân gian, trong văn học viết Trung đại, văn hóa ẩm thực ít nhiều được đề cập đến. Nguyễn Trãi coi uống trà như một giá trị thẩm mỹ và thư giãn, một công cụ giao tiếp ứng xử xã hội, làm phong phú thêm đời sống tâm hồn con người trần tục:

Xa lánh thân nhàn gác việc rồi (rỗi).

 Cới tục trà thường pha nước tuyết,

Tìm thanh trong vắt tạn chè mai.

Chim kêu hoa nở ngày xuân tạnh,

Hương lụn cờ tàn tiệc khách thôi.

(Ngôn chí, 1)

Cũng có khi một mình nhà thơ uống trà dưới ánh trăng:

Chè mai đêm nguyệt dậy xem bóng,

Phiến sách ngày xuân ngồi chấm câu.

(Ngôn chí, 2)

Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng lấy trà và rượu làm thú vui đẹp “Pha trà, chim lánh khói, Ngâm thơ thừa tiêu dao”; Lê Quý Đôn, nhà bác học uyên thâm với quan điểm lý khí, biện chứng, đầy bản sắc văn hoá dân tộc viết về cây chè Thanh Hoá trong “Vân đài loại ngữ”; Nguyễn Du nhà văn hoá dân tộc và thế giới mô tả thú vui uống trà là đầu câu chuyện, chất kết dính người với người sát lại bên nhau, chất điều chỉnh hành vi xã hội của con người trong “Truyện Kiều”

Nguyễn Khuyến, nhà thơ trào phúng và châm biếm quan lại đương thời, day dứt và cay đắng than thở cho sự bất lực của bản thân một thày đồ bất mãn với thời cuộc, mượn chén trà để quên thế sự trần tục đảo điên khôn lường trong bài thơ “Anh giả điếc uống chè”. Nét văn hóa về cách ứng xử của dân tộc lại được ông tái hiện tinh tế trong bài “Bạn đến chơi nhà”.

 Đã bấy lâu nay bác đến nhà

 Trẻ thời đi vắng chợ thời xa,

 Ao sâu nước cả khôn chài cá

         Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà

        Cải mới ra cây cà mới nụ

         Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa

         Đầu trò tiếp khách trầu không có

        Bác đến chơi đây ta với ta

       Văn học hiện đại miêu tả về ẩm thực ở nhiều khía cạnh. Một mặt các nhà văn viết về ẩm thực như là một thứ thiết yếu cần thiết cho cuộc sống mưu sinh khi mà xã hội đang dần bị chôn vùi trong đói khát, chết chóc. Những Điền, Hộ, Thứ, anh Pha trong những tác phẩm của Nam Cao đều vì cơm, áo, gạo, tiền mà dẫn đến bi kịch, vì đói chết đã đành, no cũng chết (Một bữa no - Nam Cao), cái ăn và những hệ lụy liên quan đến nó được Nam Cao, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Kim Lân thể hiện rất đầy đủ và rõ nét qua những tác phẩm hiện thực trước cách mạng tháng Tám.

Mặt khác, viết về ẩm thực, một số nhà văn lại chọn hướng đi khác, đó là viết về nét đẹp trong từng món ăn, cách thưởng thức, văn hóa ẩm thực của từng vùng miền… Hướng đi này tạo nên những phong cách vô cùng độc đáo và riêng biệt. Những chuyên gia thực sự sành điệu về ẩm thực có thể kể đến như Thạch Lam, Tô Hoài, Nguyễn Tuân, và người đặc biệt hơn cả là Vũ Bằng.

Ẩm thực trong văn chương đã trở thành một món ngon mà nhiều người lựa chọn và cảm thấy thật hứng thú.  Món “ẩm thực trong văn chương” độc đáo đầu tiên có lẽ là Thạch Lam với tập tùy bút “Hà Nội ba sáu phố phường” (1943); Đó là những món ăn thanh đạm hay đặc sản, các hàng quà rong của Hà Nội, chỉ Hà Nội mới có, Hà Nội mới quý, từ bún riêu, bún chả, thang cuốn, nem chua, bánh đậu, bánh khảo. Nguyễn Tuân xem xét văn Thạch Lam với thái độ trân trọng và ông đã dành một phần ca ngợi tập tùy bút Hà Nội băm sáu phố phường, coi đó là “một tác phẩm xinh gọn, duyên dáng để riêng ca ngợi những phong vị và sắc thái của thủ đô”.

 Người nữa, cũng là một nét rất riêng, rất ẩm thực là Nguyễn Tuân (các tác phẩm Những chiếc ấm đất, Chén trà sương, Hương Cuội in trong tập Vang bóng một thời (1940); Phở, Cốm, Giò lụa in trong tập Cảnh sắc và hương vị đất nước (1988)) ông tự cho mình có một cái nhãn quan là nhãn quan ẩm  thực, những vùng đất mà ông đi qua ông đều phát hiện ra những món ăn đặc sắc của địa phương đó.

Cũng như Thạch Lam, Nguyễn Tuân, cảm nhận của nhà văn Vũ Bằng về cái ngon, cái lạ của món ăn cho thấy một tâm hồn, một nỗi lòng và tình cảm quyến luyến trân trọng với những tinh hoa của dân tộc. Mô tả món ăn mà như thơ, nghe nói về món ăn mà như thấy từng nét quê hương, từng nỗi lòng đau đáu...Các tác phẩm của Vũ Bằng mang đậm phong vị văn hóa ẩm thực Việt là Miếng ngon Hà Nội (1960), Món lạ miền Nam (1969), Thương nhớ mười hai (1972)

Thương nhớ mười hai hay là mười hai tháng thương nhớ đến mùa nào thức ấy với đất trời của Vũ Bằng. Ta sẽ gặp những sản vật từng tháng ở miền Bắc, đó là “Tháng Giêng mơ về trăng non rét ngọt” có cà om với thịt thăn điểm. Những lá tía tô thái nhỏ hay bát canh trứng cua vắt chanh ăn mát như quạt vào lòng. “Tháng Ba, rét nàng Bân” ăn rau cần xanh ngắt. Tháng Tư, mơ đi tắm suối Mường thưởng thức trứng nhạn Hang Mai, vải Tiên Hưng, cà Nghệ muối, chè bà cốt (Tháng Tư đong đậu nấu chè). “Tháng Năm, nhớ nhót, rượu nếp và lá móng” có bánh tôm, bỏng bộp, bồ quân. “Tháng Sáu, thèm nhãn Hưng Yên” về Thất Khê ăn mận vừa giòn vừa thơm vừa ngọt; na ngon có ở Phủ Lý, Láng; về vùng Bắc Giang, Hà Ðông vào Vân Ðình, Hương Tích, Ðọi Ðiệp, chợ Ðân, chợ Kẹo để thưởng thức món “cá rô don” ăn ngon hết ý...

Không chỉ viết về những món ăn miền Bắc, Vũ Bằng còn lịch lãm về “Miếng lạ miền Nam”. Bằng lối kể chuyện nhẹ nhàng duyên dáng, lôi cuốn, tác giả đã cho chúng ta “thưởng thức” những món ăn đồng nội của miền Nam. Mỗi món ăn ngoài cách chế biến, Vũ Bằng còn giới thiệu lai lịch, tên gọi, những câu chuyện lý thú xung quanh các món ăn…

Đã có một thời, những trang văn hay về ẩm thực ở các vùng miền của Việt Nam làm độc giả say mê không kém các kiệt tác văn học kinh điển. Trong từng món ngon được thuật kể về cách chế biến, hương vị, cảm xúc thưởng thức, độc giả cảm giác như được nếm trải cả vị ngon lẫn phong vị rất riêng của mỗi câu chuyện. Những Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Băng Sơn, Vũ Bằng, Tô Hoài... đã làm sống dậy ẩm thực phố phường qua những trang văn tinh tế, đẹp đẽ. Những trang viết không chỉ là kiến thức thường thức về chế biến mà còn chuyển tải những giá trị văn hóa tốt đẹp của quê hương, bản quán, con người.

Viết về ẩm thực thành công là khi khiến độc giả dậy lên niềm ham muốn được thưởng thức món ăn nhờ được sống trong không khí văn chương thi vị, chuẩn xác. Tác giả phải truyền được niềm say mê đối với ẩm thực đến với độc giả chính bởi sự hiểu biết, trải nghiệm có thật. Có như vậy mới hi vọng tạo được dấu ấn của bản thân với các trang viết về thú thưởng thức của ngon vật lạ.

Có thể nói văn hóa ẩm thực Việt là một tập hợp vô số nét tinh túy độc đáo, nét đẹp của văn hóa ẩm thực ấy đi vào văn chương lại càng tự nhiên mà thi vị. Nó làm bản sắc văn hóa dân tộc Việt thêm giàu có, đậm đà mà phong phú, là kho đề tài vô tận để nhà văn khám phá và thử sức mình với từng món ngon Việt.

Lan Hương- Trường THCS Bảo Ninh


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài viết liên quan
Văn bản mới
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 1
Tháng 07 : 300
Năm 2021 : 1.883